ORIGAMI – KIỆT TÁC TỪ GIẤY

Người đăng: Le Nam- lúc:24/11/21 | 24.11.21

24/11/21

Xứ hoa anh đào nổi tiếng với nhiều nghệ thuật truyền thống độc đáo có một không hai. Trong số đó ta không thể không nhắc đến nghệ thuật gấp giấy Origami vừa lạ mà cũng vừa giản đơn. Đây là từ ghép của “Ori” trong tiếng Nhật gọi là gấp và “Kami” có nghĩa là giấy. Nghệ thuật gấp giấy Origami có thể giúp chúng ta tạo ra được vô vàn những loại hình thù khiến người khác trầm trồ chỉ bằng một miếng giấy đơn giản.
Vào thế kỉ I, người dân Trung Hoa đã phát minh ra giấy được làm từ các loại cây. Và từ ấy, nghệ thuật gấp giấy đã nhen nhóm được hình thành trong khoảng thế kỉ I đến thế kỉ II. Mãi đến những năm đầu thế kỉ thứ VI, kỹ thuật sản xuất giấy và nghệ thuật gấp giấy mới được du nhập sang Nhật và họ đã học hỏi được thành tựu ấy. Sau đó người Nhật Bản phát triển chúng lên một tầm cao mới qua việc sáng tạo ra giấy Washi, biến gấp giấy thành một văn hóa đặc trưng nơi đây, có tên gọi oritaka. Tuy vậy trong thời điểm mới du nhập, giấy còn là thứ khá mới mẻ, xa lạ và quý hiếm nên chỉ những người tầng lớp quyền quý mới có thể tiếp cận. Cũng vì sự xa xỉ của giấy vào thời điểm đó, nên giấy chủ yếu chỉ được dùng trong các lễ hội quan trọng. Thời gian trôi qua, giấy không còn là một thứ gì đó đắt đỏ, oritaka mới có thể tiếp cận gần hơn với người dân. Năm 1880, origami thay thế cho cái tên cũ orikata, với ori là gấp còn gami là giấy. Càng về sau, nghệ thuật gấp giấy càng biết đến rộng rãi hơn, thế kỉ XIX là cột mốc đánh dấu sự bùng nổ của origami. Và hiện tại, trên toàn thế giới, không ai là không biết đến cái tên “origami”.
Để nghệ thuật này có được vị thế như ngày hôm nay, ta phải cảm ơn Ông Yoshizawa Akita - người tiên phong trong lĩnh vực này. Ông còn được mệnh danh là “đại sư origami”. Hơn 50000 là con số nói lên số mô hình mà ông đã tạo ra từ giấy. Ông cũng có nhiều cuộc triển lãm, những cuốn sách hướng dẫn gấp được đông đảo công chúng biết đến. Với những đóng góp to lớn này, người phương Tây cũng dần biết đến origami, tên tuổi của ông ngày càng được vang xa. Ông Yoshizawa phát triển origami là vì tìm thấy được những ý nghĩa của origami. Origami không chỉ là thứ để mua vui giải trí mà còn giúp ta phát triển tư duy nhận biết khả năng hình học. Đồng thời, origami cũng giúp ta rèn luyện sự tỉ mỉ, tập trung, khả năng sáng tạo, đòi hỏi một lượng lớn chất xám. Với sức khỏe, origami còn giúp giảm stress, chữa mất ngủ. Bởi vì sự hữu ích này nên rất nhiều các trường học đưa origami vào chương trình giảng dạy.
Origami để được trở thành một “văn hóa” và một “nghệ thuật” đã phải trải qua quá trình dài mới có thể phổ biến được như ngày hôm nay. Tuy nhiên, Origami vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khám phá hết, chờ đợi những thế hệ tiếp theo chinh phục. Trong tương lai, chắc chắn biểu tượng độc đáo này của xứ sở mặt trời mọc sẽ còn phát triển hơn rất nhiều.

Lê Minh Đăng - Lớp 10D3 Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành
(Bài viết đăng lại từ trang "AHC - CLB Lịch sử Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành"
________________________________________

XEM ALBUM ẢNH KHÁC TẠI ĐÂY


________________________________________

XEM CÁC VIDEO KHÁC TẠI ĐÂY

comments | | Xem tiếp...

Dạy con lòng nhân ái

Người đăng: Le Nam- lúc:31/3/14 | 31.3.14

31/3/14

'Hãy nhân ái với kẻ thù của con, và hãy cầu nguyện cho những người ngược đãi con'.
Mint
(Dịch từ Godswork)


Một bé gái mồ côi người Hàn được đưa đến Mỹ làm con nuôi, chín tháng tuổi bé chỉ nặng hơn 4 cân chút xíu. Cô bé lớn lên và trưởng thành trong gia đình mới nhưng vẫn có vóc người nhỏ xíu. Tên cô là Edie.

Khi Edie học lớp hai, một ngày nọ cô bé chạy từ trường về nhà khóc nức nở. Hôm đó, lớp Edie nhận ba bạn gái mới vào. Trong suốt giờ giải lao đầu tiên, các bạn lao vào cấu, xô đẩy Edie bé nhỏ và dọa đánh cô. Edie phải ở một giờ đồng hồ trong phòng hiệu trưởng với ba bạn gái, cuối cùng các thầy cô đảm bảo sẽ lưu ý bảo vệ em. Ba bạn còn lại thì bị nhà trường cảnh cáo.
comments | | Xem tiếp...

Đằng sau lời nói dối (từ ngoisao.net)

Người đăng: Le Nam- lúc:30/9/13 | 30.9.13

30/9/13

Cháu hãy nhớ rằng che giấu tội lỗi của mình, cháu sẽ không bao giờ có được sự thanh thản và cháu sẽ trở thành nô lệ của cái xấu.

Mint
(Dịch từ Tonycooke)


Mùa hè, mẹ gửi Johnny về quê chơi với bà ngoại, được cậu Billy cho một cái súng chun (thun), Johnny khoái lắm. Nhưng nhớ lời cậu dặn, nó chỉ dám tập bắn ở trong rừng cây phía sau nhà. Johnny lang thang suốt buổi sáng ở trong rừng, nhưng nó chẳng bắn được chút gì cả. Buồn rầu, Johnny thất thểu về nhà ăn trưa.
comments | | Xem tiếp...

Bài văn tả cây xà cừ trên sân trường

Người đăng: Le Nam- lúc:15/5/13 | 15.5.13

15/5/13

Bài văn của Lê Minh Đức, học sinh lớp 5E trường tiểu học Hoàng Hoa Thám - Ba Đình - Hà Nội

Hè đến rồi các bạn ơi !. Tiếng ve lại kêu trong bản giao hưởng đầy mầu sắc. Tiếng chim lại hót líu lo trên những cành cây. Những cái nắng chói chang hắt xuống sân trường. Bác xà cừ trong bộ áo nâu sẫm rất muốn được thay áo mới để hòa nhịp vào không gian nhộn nhịp đó.

Chẳng biết bác có từ khi nào, nhưng em chỉ biết khi vào lớp Một bác đã có ở đó rồi. Bác luôn mặc chiếc áo tuy cũ nhưng vẫn tỏ ra thân thiện. Nhìn xa, trông bác như một chiếc ô khổng lồ. Rễ cây to, ngoằn ngoèo cắm sâu xuống đất. Nhìn từ xa, em không biết là có bao con rắn ngoằn ngoèo đang bò dưới gốc bác. Gốc bác to, rộng và rất cứng nữa. Thân người bác to, hiện lên những cục u, cục bướu, những vệt sần sùi lộ rõ sự già nua, sự gắn bó với trường tiểu học mang tên vị anh hùng "Hoàng Hoa Thám". Cành của bác chia làm ba, bốn nhánh. Mỗi nhánh lại là những cái cành xinh xinh, sắc nhọn mọc tua tủa. Trên mỗi cánh tay sắc nhọn ấy lại là một chiếc lá xinh xinh. Lá cây có màu xanh lá chuối. Ngoài viền lá là những nét răng cưa. Nhưng lúc mưa xong, nước mưa đọng trên những chiếc lá đó. Nắng bắt đầu hắt vào những giọt mưa và tạo nên một màu óng ánh gồm bảy sắc cầu vồng: đỏ, cam, lục, lam, tím, vàng, chàm. Những lúc nắng chang chang, bác sẵn sàng làm ô cho chúng em che. Nhìn thấy chúng em nô đùa vui vẻ, em cảm giác như bác cũng muốn chơi cùng. Nhưng bác không buồn vì bác đã kết bạn với những chú chim, làm nhà cho chúng. Vì vậy, mỗi ngày những chú chim luôn hót cho bác nghe những bài ca hay nhất của chúng. Bác càng ngày càng vui. Mỗi lần gió thổi rung rung cành lá, em tưởng tượng như bác đang rất vui vẻ. Ngày ngày chúng em đến gốc cây, kể cho bác nghe về những câu chuyện ở trên lớp hôm nay ra sao, có những chuyện vui buồn gì không?.

Qua bao thời gian gắn bó với bác, chúng em bỗng thấy nhung nhớ khi phải xa bác, xa mái trường tiểu học Hoàng Hoa Thám. Em nghĩ bác cũng buồn như vậy. Bác là người rất tuyệt vời. Bác luôn làm những điều tốt nhất cho chúng em. Em như muốn nói: "Chúng em luôn nhớ bác!" và dường như bác cũng thì thầm nói vậy: "Tôi cũng nhớ các cậu!". Tạm biệt bác, chúng em luôn nhớ mãi hình ảnh gần gũi thân quen của bác.


________________________________________

XEM ALBUM ẢNH KHÁC TẠI ĐÂY


________________________________________

XEM CÁC VIDEO KHÁC TẠI ĐÂY

comments (1) | | Xem tiếp...

Bài văn: Tả cơn mưa (Lê Minh Đức)

Người đăng: Le Nam- lúc:24/4/13 | 24.4.13

24/4/13

Bài văn tả cơn mưa của Lê Minh Đức, học sinh lớp 5E, trường tiểu học Hoàng Hoa Thám - Ba Đình - Hà Nội

Chủ nhật vừa rồi, em được về quê chơi. Vừa bước xuống xe, em thấy trên bầu trời là những mảng mây đen đục kéo về. Rồi những đám mây tách ra từng mảnh nhỏ, san đều trên bầu trời. Gió bỗng mát lạnh. Cây cối nghiêng ngả. Những chú chuồn chuồn chuồn bay rất thấp. Rồi đâu đó có những giọt nước từ trên trời rơi xuống.

Lẹt đẹt... lẹt đẹt... mưa đến thật rồi!. Mới đây thôi, những giọt mưa còn kêu lách tách trên những chiếc lá, giờ đã đổ ào xuống mặt đất. Mưa to hơn, đổ trên mái tôn, mái rạ, sân chơi kêu lộp độp. Mưa đổ cả xuống bãi đất tạo thành bùn. Mọi người đi lại ướt hết cả. Ông sấm dường như nổi giận, kêu vang một hồi. Sấm sét xuất hiện, một luồng sáng chóe hiện ra rồi biến mất. Gió càng mạnh thêm, quật ngã cả những cái cây non nớt còn mới lớn. Phựt! Đường dây điện bị ngắt rồi. Trong nhà bỗng tối sầm lại. Em có cảm giác sờ sợ, liên mở cửa sổ. Nhìn từ cửa, em bị ướt hết cả mặt bởi những giọt mưa nặng hạt bắn tứ phía. Sét đánh càng to hơn làm bật cả gốc cây cổ thụ. Khủng khiếp thật! Ấy thế mà bố em phải ra đường mua thuốc cho ông đang ốm. Ngoài sân, có một chú chó và một chú gà ướt lướt thướt đang tìm chỗ trú. Thi thoảng, chúng lại đùa nghịch đánh nhau mà không hay mưa to dần. Đúng vậy, mưa đã to dần. Những hạt mưa càng nặng thêm. Những lá quýt, lá cam đang rung rinh trước gió như đùa giỡn. Nhưng những bông hoa hồng bạch hay những cô hồng nhung thì đang run rẩy chống cự. Mưa càng to nữa làm ngập cả sân. Cả nhà dường như bị ngập nước. Bọn trẻ ngoài phố lại ra vỉa hè, thả những chiếc thuyền giấy. Có thuyền bị chìm nghỉm vì hạt mưa quá nặng. Có thuyền thì vẫn trôi sang bờ bên kia, mặc kệ mưa mà tiếp tục cuộc hành trình những những chiến binh bất khuất thực thụ. Có đứa thò chân nghịch nước. Bỗng có một thằng nhỏ kêu lên: "Mưa tạnh rồi!".

Bầu trời bỗng sáng ngời. Những đám mây đen đã đi lại (cô giáo gạch chân...). Ông mặt trời lại ló rạng. Đẹp hơn cả là bảy sắc cầu vồng lung linh. Trên những chiếc lá vẫn còn đọng lại một vài giọt mưa, rồi bỗng hiện ra một màu lấp lánh. Nắng tung tăng như đùa giỡn, nhảy nhót trên khắp chiếc lá. Cô gà mái mơ nãy giờ ướt sũng sĩnh, giờ trên bộ lông vàng sẫm ấy nước lại ráo đi. Những chú gà con từ đâu trong chuồng chạy ra, chơi đùa. Thi thoảng, có chú ngã "bịch" vì sân trơn ướt. Chú mèo khoang đang ngủ dưới gốc cây đa, chốc chốc thấy chú chuột mà ham đuổi khi trên người còn đẫm nước, rồi nằm dài ra sân phơi nắng. Mọi người trút bỏ hết những những chiếc áo mưa. Xe cộ đi lại như mắc cửi. Mọi người lại bắt đầu cuộc sống mới sau trận mưa.


________________________________________

XEM ALBUM ẢNH KHÁC TẠI ĐÂY


________________________________________

XEM CÁC VIDEO KHÁC TẠI ĐÂY

comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 11)

Người đăng: Le Nam- lúc:9/5/12 | 9.5.12

9/5/12


1. Câu chuyện bà Rùa (phần 4)
2. Câu chuyện bà Rùa (phần 5)
3. Câu chuyện bà Rùa (phần 6)
4. Câu chuyện bà Rùa (phần 7)
5. Câu chuyện bà Rùa (phần 8)
6. Câu chuyện bà Rùa (phần 9)
7. Câu chuyện bà Rùa (phần 10)


Bà Rùa làm rất nhiều nghề rồi. Và bây giờ bà sẽ làm nghề trông trẻ. Bà nhận trông một đứa trẻ tên Giu-ha trong vòng 15 ngày. Đứa trẻ này mới hai tuổi nên trông em cũng hơi khó. Lúc em bé mới đến, bà đã phải quấn bỉm cho em. Mỗi tối, sau khi ru em bé ngủ xong bà thường xem ti vi đến một giờ sáng mới ngủ. Khi ngủ, bà ngủ rất say nên đe vệ sinh ra giường cũng không biết. Thế là Giu-ha phải quấn bỉm cho bà. Mỗi sáng Giu-ha gọi bà dậy lúc 9 giờ. lúc bà còn đang loay hoay không biết nấu súp thế nào thì Giu-ha đã gọi bà ra bàn ăn. Bà rất ngạc nhiên khi thấy Giu-ha đã nấu súp. Mà súp Giu-ha nấu rất ngon. Cuối cùng, 15 ngày cũng đã qua và bà lại nhận trông một đứa trẻ tên là Pu.


Tác giả: Quỳnh Anh
(Đón đọc câu chuyện BÀ RÙA phần 12)


comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 10)

Người đăng: Le Nam- lúc:23/3/11 | 23.3.11

23/3/11


1. Câu chuyện bà Rùa (phần 1)
2. Câu chuyện bà Rùa (phần 2)
3. Câu chuyện bà Rùa (phần 3)
4. Câu chuyện bà Rùa (phần 4)
5. Câu chuyện bà Rùa (phần 5)
6. Câu chuyện bà Rùa (phần 6)
7. Câu chuyện bà Rùa (phần 7)
8. Câu chuyện bà Rùa (phần 8)
9. Câu chuyện bà Rùa (phần 9)
Bà Rùa bây giờ không còn làm nghề bồi bàn và rửa cốc nữa. Bà đã quyết định ở nhà hai tháng để trồng cây. Sau một tháng, bà ra xem cây đã mọc chưa. Nhưng khi bà ra xem cây, bà hết lên vì cây của bà đã héo hết.
- Thằng nào đã phái cây của bà. Bà sẽ kiện, nhất định phải kiện.
Liệu có phải vì bà chậm chạp quá nên cây héo hết không nhỉ. Hóa ra, suốt một tháng qua bà không hề tưới nước. Thế rồi bà trồng cây rau cải để ăn. Bà tưới rất nhiều nước cho cây rau cải của bà. Như tại sao cuối tháng bà vẫn không ăn được rau cải. Tại sao ???
Tại vị bà không tưới nước ư ? Không phải vậy đâu, vì bà tưới rất nhiều nước mà. Chính vì bà tưới nhiều nước nên cây cải chết hết đấy. Bà Rùa không chỉ chậm chạp mà còn rất ngốc nghếch nữa.

Tác giả: Quỳnh Anh
(Đón đọc câu chuyện BÀ RÙA phần 11)

comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 9)

Người đăng: Le Nam- lúc:10/3/11 | 10.3.11

10/3/11

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 8


Bà Rùa lại đã bị đuỏi việc vì tính chậm chạp của mình. Bà Rùa sẽ làm nghề gì bây giờ ?.

Bà Rùa sẽ làm bồi bàn cho nhà hàng KEM (nhà hàng này chỉ phục vụ toàn kem thôi).

Một hôm, gia đình anh Nhím đến ăn đầu tiên, nhưng đến khi nhà hàng đóng cửa thì gia đình anh Nhím vẫn chưa được ăn kem. Tại sao vậy ???

Tại vì bà Rùa nhận được công việc đưa kem đến cho gia đình anh Nhím. Mà ai cũng biết bà Rùa chậm thế nào. Thế là gia đình anh Nhím bỏ đi. Bà Rùa lại nhận được nhiệm vụ rửa cốc chén.

Sau một ngày bán kem, nhà hàng đã gần hết cốc. Sau hai ngày, nhà hàng đã hết sạch cốc. Hóa ra, bà Rùa rửa xong một cái cốc trong mười hai tiếng đồng hồ.


Tác giả: Quỳnh Anh

----------------------------

Xem tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 10
comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (Phần 8)

Người đăng: Le Nam- lúc:15/12/10 | 15.12.10

15/12/10

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 7

Bà Rùa buồn rầu nghĩ:

- Bây giờ mình không còn nhanh nhẹn như lúc mình còn làm nghề may quần áo. Hay là bây giờ mình làm nghề giao bánh vậy.

Thế rồi bà Rùa quyết định làm nghề giao bánh. Chủ cửa hàng bánh bảo bà Rùa:

- Bà hãy giao cái bánh ga-tô chi chị Nai nhé!. Số nhà của chị Nai là 526 phố Bìa Rừng.

Bà Rùa chạy thật nhanh đến nhà chị Nai. Nhưng khi bà đến nơi, bà không thể tìm thấy số nhà nào có số là 526 cả. Bà hỏi người hàn xóm bên cạnh. Người hàng xom nói:

- Bác có biét nhà chị nai ở đâu không ?. Số nhà của chị Nai là 526.

- Chị Nai đã chuyển đi cách đây hai năm rồi.

Bà Rùa đi về cửa hàng. Lần này, bà phải giao bánh pi-za cho anh Sóc. Bà lấy xe đạp để đi. Khi đưa bánh cho anh Sóc bà còn kiểm tra xem bánh có bị làm sao không. Bà rất buồn khi thấy bánh đã bị mốc. Thì ra bà đã đi giao bánh trong nửa năm mà hạn sử dụng chỉ có trong vòng chưa đầy 3 tháng.

Khi trở về cửa hàng, bà bị ông chủ mắng rất lâu. Ông chủ mắng bà Rùa rất to nên hàng xóm suốt 4 tháng không tài nào ngủ được.



Tác giả: Quỳnh Anh
--------------------------

Xem tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 9
comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (Phần 7)

Người đăng: Le Nam- lúc:28/3/10 | 28.3.10

28/3/10

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 6


Bà chạy đi tìm gia đình anh chim sẻ để nói với anh chim sẻ là bà đã lau xong cửa sổ. Nhưng bà tìm mãi vẫn không thấy anh sẻ đâu.

Cuói cùng bà tìm thấy một đứa bé giống anh chim sẻ. Bà hỏi:

- Cháu ơi. Cháu có biết anh chim sẻ đâu không ?

Đứa bé nói:

- Muộn rồi bà ơi ! anh chim sẻ mà bà cần tìm chính là cụ của cụ của cháu. Hôm qua, cụ của cụ cháu vừa qua đời.


Tác giả: Quỳnh Anh

---------------------

Xem tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 8
comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (Phần 6)

Người đăng: Le Nam- lúc:13/10/09 | 13.10.09

13/10/09

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 5

Bây giờ thì bà Rùa cũng không làm nghề may quần áo nữa mà bà lại làm nghề lau cửa sổ. Có một gia đình anh chim sẻ mới mua nhà được một năm nên mới nhờ bà lau cửa sổ cho nhà đẹp hơn.

Nhà anh chim sẻ ở rất gần nhà bà rùa nên chỉ có 12 tiếng đồng hồ là bà Rùa đến nơi. Bà lau rất cẩn thận và cuối cùng bà cũng lau xong. Nhưng bây giờ ngôi nhà đó cũng trở thành nhà hoang.


Tác giả: Quỳnh Anh

----------------------

Xem tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 7
comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 5)

Người đăng: Le Nam- lúc:12/5/09 | 12.5.09

12/5/09

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 4

Con Sên non đâu rồi??? Bà Rùa đã ăn chưa???

Không đâu, bà Rùa còn chưa ăn con Sên non mà. Con Sên đó vẫn nằm trên đĩa suốt mấy chục năm qua. Con Sên non cũng chẳng mong muốn gì được bà ăn ngay đâu. Nhưng tại sao bà Rùa lại không ăn con Sên đó ngay đi mặc dù bà đang rất đói nhỉ ???

Tại vì bây giờ con Sên non đó đã không còn gọi là con Sên non nữa vì nó thành con Sên cụ, Sên kỵ rồi. Đố bà Rùa ăn được con Sên đó nữa.


Tác giả: Quỳnh Anh
-------------------

Đọc tiếp:

Câu chuyện Bà Rùa phần 6
comments (2) | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 4)

Người đăng: Le Nam- lúc:15/4/09 | 15.4.09

15/4/09

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 3

Bà chạy thật là nhanh về nhà khâu áo. Sau một lúc lâu, bà đã khâu xong. Bà vội chạy đến nhà vợ Prit. Bà chạy đến nơi thì thấy vợ Prit bế một em bé ra mở cửa. Vợ Prit nói:

- Muộn rồi bà ơi! Chồng cũ của cháu là Prit đã chết cách đây 15 năm rồi. Bây giờ cháu đã lấy một người chồng là Việt kiều và cháu đã sinh ra một em bé. Em bé đã tròn một tháng tuổi rồi đấy, bà ạ!

Bà Rùa vui vẻ nói:

- À đúng rồi! Ta sẽ tặng cháu tất cả những thứ mà ta đã may cho Prit. Tất cả thứ này dành cho cả đời cháu đấy.

Rồi bà lại nói:

- Mọi người nói sai hết cả rồi. Họ Rùa nhà tôi ai cũng nhanh cả.

Vợ thỏ cười. Còn bà Rùa chẳng hiểu gì cả.


Tác giả: Quỳnh Anh

-------------------------

Đọc tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 5
comments (1) | | Xem tiếp...

Truyện kể - Ba Ba tìm nhà

Người đăng: Le Nam- lúc:14/4/09 | 14.4.09

14/4/09

Trời mùa thu mát rượi, nắng sớm lung linh chiếu trên mặt đất. Một chú Ba Ba vừa mới đạp vỡ vỏ trứng chui ra được có mấy ngày, đang ngơ ngác đi tìm nhà của mình. Chú nhìn thấy một vật tròn tròn dính trên thân cây to bị đổ nằm ngang, chú liền bò đến hỏi:

- Đây có phải là nhà của cháu không ạ?

Nghe tiếng động, một đàn ong bay vù ra. Ba Ba sợ quá nghĩ bụng: "Có lẽ nhà của mình ở dưới lòng đất?"

Chú bò đi, tìm thấy một cái hang ở góc tường. Ba Ba đang định rúc vào hang, thì mấy chú chuột con chui ra, chít chít chào Ba Ba rồi nói ngọt ngào:

- Đây là nhà của chúng tớ.

Ba Ba lại nghĩ: "Hay là nhà của mình ở trên núi nhỉ?" Chú bò chậm chạp lên một cái hốc núi vừa lúc gấu con trong hốc đi ra. À, hốc núi là nhà của gấu. Ba Ba nghĩ mãi: "Có khi nhà mình ở dưới sông cũng nên?"

Chú bò đến bên bờ con sông nhỏ. Vừa mới xuống nước bơi được quãng ngắn, Ba Ba thấy ngạt đến không thở được. Chú vội lên ngồi nghỉ ở một phiến đá ven bờ. Bỗng, một cô Ốc Sên nhỏ từ trong hẻm đá bò ra. Ba Ba liền hỏi thăm:

- Cô bé Ốc Sên xinh đẹp ơi! Có biết nhà của anh đâu không?

Cô Ốc Sên có đôi má đỏ bồ quân tươi cười, nhìn Ba Ba từ đầu đến chân rồi trả lời:

- Ái chà, sao mà anh ngốc thế! Anh cứ nhìn kỹ em đi, rồi là lại ngắm cái lưng của mình sẽ biết.

Ba Ba ngoảnh cổ nhìn cái mai của mình y như viên ngói lợp trên lưng, mà lại giống màu vỏ ốc sên. Thế là Ba Ba đã tìm được nhà của mình.
comments (1) | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 3)

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 2

Bây giờ bà đã khâu xong. Bà vội vàng đến nhà Brit thì thấy vợ Prit đang khóc. Bà hỏi tại sao cô ấy lại khóc vì sắp đến đám cưới. Vợ Prit nói:

- Muộn rồi bà ơi! Hai vợ chồng cháu đã sống với nhau 20 năm nay. Chẳng may chồng cháu qua đời.

Bà bảo:

- Thôi, để bà về may cho cháu cái áo tang nhé!


Tác giả: Quỳnh Anh

------------
Đọc tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 4
comments | | Xem tiếp...

Câu chuyện BÀ RÙA (phần 2)

Người đăng: Le Nam- lúc:22/3/09 | 22.3.09

22/3/09

Phần trước:
Câu chuyện Bà Rùa phần 1

Bà Rùa quay về nhà và bắt đầu miệt mài khâu. Sau 3 tiếng đồng hồ bà xâu được chỉ vào kim, sau 4 tiếng bà khâu được mũi đầu tiên. Cuối cùng bà cũng may xong. Bà vội vàng đến nhà anh Thỏ. Khi bà đến cửa, bà gặp một anh chàng thỏ cao lớn. Bà nói với anh ta:

- Tôi đến để kỷ niệm cháu Prit tròn một tháng tuổi đây.

Anh chàng thỏ bảo:

- Muộn rồi bà ơi! Cháu là Prit đây. Tối nay là cháu lấy vợ rồi.

Bà Rùa bảo:

- Bà sẽ về nhà để may một bộ quần áo cưới cho cháu nhé!

Bà về nhà và bắt đầu khâu. Bà khâu, khâu, khâu mãi...


Tác giả: Quỳnh Anh

Đọc tiếp:
Câu chuyện Bà Rùa phần 3
comments (5) | | Xem tiếp...

Sắp Tết rồi! Câu chuyện BÀ RÙA của Quỳnh Anh

Người đăng: Le Nam- lúc:20/1/09 | 20.1.09

20/1/09

Thế là sắp hết một năm nữa rồi, chỉ còn vài ngày nữa thôi là lại sang năm mới. Ngoài đường mặc dù trời hơi se lạnh nhưng mọi người đi lại rất nhộn nhịp để sắm Tết. Hoa Đào, Cây Quất đã được bày ra hai bên đường rất nhiều để bán. Không khí tết có vẻ sôi động tràn ngập khắp phố phường chứ không bình thường như trong miền Nam.

Thứ bảy tuần trước ba mẹ cho anh Nick đi xem xiếc và ca nhạc ở rạp xiếc Trung ương, còn em Jack phải ở nhà. Mẹ Thanh chỉ tiếc là không cho Jack đi xem có nhiều trò xiếc thú vui lắm nhưng vì buổi tối lạnh quá, mà lại về khuya nữa. Ngày Chủ nhật hôm sau mọi người xuống nhà cô Phương chơi, chỉ có mẹ Thanh ở nhà giúp bà ngoại cúng ông Táo 23 tháng chạp. Đến chiều Nick phải về sớm để học tiếng Anh còn Jack thì nhất định không chịu về chỉ muốn ở chơi thêm nữa, đến tối mới về sau.

Dạo này Jack đi học nhà trẻ rất ngoan ngoãn và tự nguyện, không khóc nhè nữa. Cô giáo cũng khen là không nghịch ngợm như anh Nick ngày xưa. Không biết sau đợt nghỉ Tết xong đi học có duy trì được "phong độ" như bây giờ không. Mà bây giờ em Jack nói chuyện có nhiều câu nghe rất ngộ nghĩnh lắm.

Anh Nick thì vẫn như vậy thôi, nói năng thì "nhí nhố", lại còn hay đòi hỏi lung tung. Hôm trước sơ kết học kỳ I được danh hiệu học sinh giỏi xuất sắc thế là về mua đòi phần thưởng. Dì Hằng mặc dù bận thế mà vẫn phải bỏ thời gian để mua tặng cháu đồ chơi Ben Ten, chắc Dì cũng không chịu được sự "kỳ kèo" dai như đỉa của thằng cháu. Ngoài ra anh Nick còn viết rất ẩu nữa, viết quấy quá cho xong chuyện còn đi chơi, ba phải bắt phạt ngồi viết dòng "Từ nay con không viết ẩu nữa" để cho mà nhớ.

Mẹ Thanh dạo này bận rộn quá, thỉnh thoảng lại đau dạ dày vì lo lắng nhiều việc dồn vào cuối năm. Còn ba cũng chẳng giúp gì cho mẹ được ngoài việc đưa hai thằng con đi học và một số việc vặt vãnh khác.

Hôm trước đến nhà cô Phương chơi, Quỳnh Anh khoe anh Nick tập truyện mới sáng tác về Bà Rùa, đây là một truyện dài nhiều kỳ, ba thấy hay quá nên mang về đưa dần lên blog này để mọi người cùng theo dõi nhé!

----------------

Câu truyện về Bà Rùa

Có một bà rùa làm nghề may quần áo. Một hôm bà định ăn một con sên non thì bỗng nghe thấy tiếng gọi cửa của anh Thỏ. Anh Thỏ nói:
- Bà ơi ! Mời bà đến nhà tôi một lúc nhé!
Bà Rùa bèn bảo với con sên đang nằm trên đĩa:
- Mày hãy đợi tao một một tí nhé! Tao sang nhà anh Thỏ xong về sẽ ăn mày.
Sau một ngày, bà Rùa đã đến được nhà anh Thỏ. Anh Thỏ bảo với bà:
- Nhà cháu vừa sinh được một em bé tên là Brit.
Bà Rùa bèn nói với anh Thỏ rằng:
- Xin chúc mừng anh. Tháng nữa tôi sẽ đến đây để kỷ niệm cháu bé tròn một tháng tuổi. Tôi sẽ tặng cho bé một chiếc áo màu trắng.


Đọc tiếp:
Câu truyện Bà Rùa phần 2
comments | | Xem tiếp...

Tìm mẹ

Người đăng: Le Nam- lúc:10/9/08 | 10.9.08

10/9/08

Ngày xưa, ở một làng nhỏ, có một người mẹ. Người mẹ nuôi hai đứa con. Đứa nhớn là thằng Nhà lên năm. Đứa nhỏ là con Gạo lên ba.

Khi đẻ đứa con nhớn, người bố nói:

- Mình làm ăn suốt ngày suốt tháng mà cái nhà cũng không có mà ở. Thôi, đặt tên cho nó là Nhà để sau này nó có cái nhà trú mưa trú nắng.

Người mẹ nói:

- Thế thì đặt tên cho nó là thằng Nhà.

Vừa nói vừa ứa nước mắt.

Khi đẻ đứa con gái, người bố nói:

- Mình làm ăn suốt ngày suốt tháng, mà gạo chẳng có mà ăn. Thôi, đặt tên cho nó là Gạo để sau này nó còn có hột gạo ăn.

Người mẹ nói:

- Thế thì đặt tên cho nó là con Gạo.

Vừa nói vừa ứa nước mắt.



o O o



Hai vợ chồng ra sức làm ăn quanh năm suốt tháng. Làm ngày không đủ phải làm cả đêm. Người bố ngày thì đi làm ruộng, đêm thì đi săn. Nhưng lúa gặt được bao nhiêu phải nộp cho Chúa làng bấy nhiêu. Hươu nai bắn được con nào phải nộp cho Chúa làng con ấy. Người mẹ thì đi mò cua bắt ốc. Cua ốc kiếm được cũng phải nộp cho Chúa làng.

Mỗi khi Chúa làng nói thì mọi người trong làng phải cúi đầu không được nói. Chúa làng đòi gì là mọi người phải răm rắp tuân theo.

Người bố nói:

- Thế này thì thằng Nhà chẳng bao giờ có nhà, con Gạo chẳng bao giờ có gạo.

Người mẹ nhìn hai đứa con, ứa nước mắt. Người bố nói:

- Mình không có, còn chịu được. Nhưng chúng nó không có nhà, không có gạo thì chịu sao nổi. Phải cố cho con nó có gạo mà ăn, có nhà mà trú mưa trú nắng.

Hai vợ chồng càng ra sức làm ăn quanh năm suốt tháng, ngày làm không đủ phải làm cả đêm. Chúa làng bắt nộp hết lúa, nộp hết hươu nai, nộp hết cua ốc.

Một hôm thằng Nhà khóc tím người vì rét, con Gạo khóc lịm đi vì đói. Người bố đến lạy Chúa làng:

- Xin Chúa làng rủ lòng thương cho con mang về một nắm lúa.

Chúa làng trợn mắt, chỉ tay lên cây, lại chỉ tay xuống đất, nói:

- Từ ngọn lá trên cây đến hòn sỏi dưới đất, cái gì cũng là của tao. Tao cho gì được nấy, ai xui mày đến trước mặt tao nói càn nói bậy?

Chúa làng quát:

- Cút đi!

Và Chúa làng cưỡi ngựa trắng đi chơi, tiếng nhạc rung lên như tiếng vàng tiếng ngọc. Chúa làng chợt nghĩ:

- Nó đã dám hỏi thì rồi nó cũng dám ăn cắp.

Chúa làng quay ngựa lại, dọc đường gặp người bố đang lủi thủi về. Chúa làng đâm người bố, hất xác xuống khe sâu. Chúa làng cho là không ai biết việc này. Nhưng dưới khe sâu, người bố kêu thê thảm:

- Chúa làng giết tôi rồi! Và lá rừng rì rào: Chúa làng giết người! Núi thì thầm: Chúa làng giết người! Khe sâu róc rách: Chúa làng giết người!

Chúa làng nghĩ:

- Thế nào vợ con nó cũng biết.

Chúa làng phi ngựa đi tìm giết ba mẹ con.



o O o



Trên núi, dưới một cây cổ thụ, người mẹ ôm hai con. Thằng Nhà khóc tím người vì rét. Con Gạo khóc lịm đi vì đói. Người mẹ bỗng thấy ruột mình như có ai đâm. Người mẹ nói:

- Các con đừng khóc nữa. Ruột mẹ đau quá. Các con nín đi, bố cũng sắp về.

Thằng Nhà, con Gạo thiu thiu ngủ. Thỉnh thoảng chúng nó giật mình cựa quậy vì rận cắn. Con rận trong manh áo rách của người mẹ cắn như đốt vào da. Để khỏi động đến giấc ngủ của hai đứa con, người mẹ khẽ bảo dận:

- Rận ơi? Đốt tao chứ đừng đốt con tao.

Đàn rận nói:

- Chúa làng sai chúng tao đến hút máu vợ chồng con cái mày. Nay hết máu rồi, chúng tao cũng đi đây.

Nói xong, đàn rận kéo nhau đi. Còn một con rận con quay lại thấy mặt người mẹ võ vàng, nó dùng dằng không nỡ đi. Sau nó nói:

- Tình cảnh chị thật đáng thương. Tôi đi mà không nỡ. Tôi báo cho chị cái tin này. Chúa làng đã giết chồng chị rồi. Chúa làng đang phi ngựa đi tìm giết nốt ba mẹ con chị đấy. Trốn đi. Nhạc ngựa Chúa làng đã gần rồi.



o O o



Những ngôi sao trên trời rỏ nước mắt xung quanh ba mẹ con. Dưới chân núi, nhạc ngựa của Chúa làng vang vang, vó ngựa nện trên đá lộp cộp.

Người mẹ đánh thức thằng Nhà và con Gạo. Người mẹ cõng Nhà trên lưng, ẵm Gạo trong tay, nhằm núi cao mà trèo. Thằng Nhà hỏi:

- Mẹ ơi, đêm khuya mẹ cõng con đi đâu, con rét lắm. Bố đâu?

Gạo hỏi:

- Mẹ ơi, đêm khuya mẹ ôm con đi đâu, con đói lắm. Bố đâu?

Người mẹ nói:

- Lên núi thật cao kẻo Chúa làng đến bắt. Các con đừng nói to, Chúa làng nghe rõ.

Người mẹ lại lo: lên núi cao, Chúa làng không bắt được nhưng lấy gì nuôi thằng Nhà, con Gạo?

Con rận con còn ở lại trong manh áo rách người mẹ, nói:

- Chạy vài bước nữa thì đến hang ông lão Đá. Ông lão Đá có một giỏ gạo đầy. Xin ông lão Đá một nửa.

Người mẹ qua hang ông lão Đá. Người mẹ không dám hỏi. Ông lão Đá nói:

- Cầm lấy nửa giỏ gạo mà nuôi con.

Nói xong, ông lão Đá đưa cả giỏ gạo cho người mẹ.

Người mẹ chưa kịp đỡ thì nhạc ngựa Chúa làng lại vang lên rất gấp. Ông lão Đá chạy theo người mẹ, đưa giỏ gạo và giục đi mau.

Người mẹ cõng thằng Nhà trên lưng, ẵm con Gạo trong tay, cái giỏ gạo bên mình, trèo hết núi này đến núi khác. Tay chân người mẹ đã nát toạc vì gai và đá nhọn. Giời đã sáng. Người mẹ đứng trên cao nhìn xuống ruộng, bờ ruộng chỉ bé như cái ngón tay. Tiếng nhạc ngựa không nghe thấy nữa. Người mẹ nói với thằng Nhà:

- Đây cao lắm rồi. Chúa làng không lên được.

Thằng Nhà nói:

- Người nhà Chúa làng có đứa lên được.

- Sao con biết?

- Hôm nọ con theo ông lão Đá lên đây, kiếm gỗ đẽo bắp cày. Người nhà Chúa làng đến cướp bắp cày.

Người mẹ nghe nói, hốt hoảng:

- Ta phải lên cao nữa.Thằng Nhà nói:

- Mẹ để con xuống, con nhớn rồi.

Thằng Nhà chạy lên trước. Người mẹ lại trèo, cõng con Gạo trên lưng, cái giỏ bên mình. Lên một đỉnh núi cao, nhìn xuống ruộng, bờ ruộng bé như sợi chỉ. Người mẹ nói với thằng Nhà:

- Con có biết núi này không?

Thằng Nhà nói:

- Con biết.

- Sao con biết.

- Hôm nọ con theo ông lão Đá lên đây bứt mây.

- Người nhà Chúa làng có lên được đây không?

- Người nhà Chúa làng lên được, cướp mây của ông lão Đá.

Người mẹ nghe nói, hốt hoảng:

- Ta phải lên cao nữa.

Con Gạo nói:

- Mẹ để con xuống, con nhớn rồi.

Thằng Nhà dắt con Gạo chạy lên trước. Người mẹ lại trèo, cái giỏ bên mình. Lên một đỉnh núi cao lắm, nhìn xuống, không thấy gì, chỉ toàn là mây trắng. Gió thổi mạnh đến nỗi thằng Nhà và con Gạo phải ôm lấy chân người mẹ. Người mẹ phải ôm chặt lấy một mỏm đá. Người mẹ hỏi thằng Nhà:

- Con có biết núi này không?

Thằng Nhà nói:

- Con không biết.

Người mẹ nghĩ:

- Thế thì Chúa làng không lên được, người nhà Chúa làng không lên được. Chúa làng không giết được mẹ con ta.
Hai đứa bé đã thiu thiu ngủ. Người mẹ để mỗi con nằm trên một đùi, mỗi tay ôm một đứa.



o O o



Người mẹ nghĩ:

- Chúa làng không lên được, nhưng ta ở đây thì ăn hết gạo của hai con. Phải xuống núi kiếm thêm gạo cho chúng nó.
Người mẹ hát cho thằng Nhà và con Gạo ngủ say, rồi đứng dậy. Người mẹ lại nghĩ:

- Phải treo giỏ gạo lên cao để con nó ăn dần, treo thấp thì con nó ăn một lúc hết ngay, nó không chờ được mẹ về, nó khóc hết hơi. Người mẹ trèo lên một cây gạo rất cao, cành lá trơ trụi, và treo cái giỏ gạo lên ngọn cây. Người mẹ trèo xuống nhìn hai đứa con đang ngủ say, hát cho chúng nó ngủ say hơn nữa. Người mẹ bẻ một sào trúc dài dựa vào gốc cây để thằng Nhà con Gạo chọc giỏ lấy gạo ăn. Cuối cùng, người mẹ cởi manh áo rách đắp cho hai con.

Con rận con không đi với người mẹ. Nó ở lại trong manh áo rách người mẹ đã cởi đắp cho hai con. Người mẹ bước đi một bước lại quay nhìn hai con, ứa nước mắt đi không đành. Con rận con bò ra khỏi manh áo rách, bò lên một cành cây ngang vai người mẹ. Người mẹ vẫn quay nhìn hai con, ứa nước mắt đi không đành. Con rận con đã bò lên ngang tai người mẹ, nói nhỏ:

- Chị đi đi, đi tìm gạo cho thằng Nhà, con Gạo.

Người mẹ ứa nước mắt. Con rận con lại nói:

- Chị đi nhanh lên. Dọc đường có gặp Chúa làng thì nhằm rừng mây mà chạy vào. Rừng mây chị chạy được, Chúa làng cưỡi ngựa không chạy lên được.

Người mẹ hỏi:

- Liệu Chúa làng có lên đây không?

- Chúa làng gặp chị, đuổi theo chị, thì không lên đây nữa.

- Chúa làng cứ lên thì làm sao?

- Thì đã có tôi.

Người mẹ gạt nước mắt xuống núi. Một lúc nghe văng vẳng tiếng nhạc ngựa của Chúa làng. Người mẹ chạy xuống đến lưng chừng núi thì nhạc ngựa của Chúa làng cũng vang lên ở lưng chừng núi. Người mẹ thấy ngựa Chúa làng trước mặt, kêu lên một tiếng và chạy rẽ vào rừng mây. Chúa làng nghe tiếng người mẹ kêu, phi ngựa đuổi theo vào rừng mây. Dây mây chằng chịt, ngựa Chúa làng vướng mây không chạy được, Chúa làng nhảy xuống ngựa, đuổi theo người mẹ. Mây rẽ ra cho người mẹ chạy. Gai mây đâm vào tay, vào chân, vào mặt Chúa làng. Chân nó, tay nó, mặt nó chảy máu. Chúa làng phải chạy trở ra, đứng ngoài rừng mây nhìn vào, gầm thét. Người mẹ ra sức chạy cho xa, cho thật xa tiếng gầm thét của Chúa làng. Người mẹ lạc mất đường về. Chúa làng gầm thét khản cả cổ, mà vẫn không thấy người mẹ ra. Chúa làng lên ngựa. Gai mây đâm vào chân, máu chảy ra đã khô. Gai mây đâm vào tay, máu chảy ra đã khô. Gai mây đâm vào mặt, máu chảy ra đã khô. Máu khô làm thành những đường vằn vện trên chân, trên tay, trên mặt Chúa làng. Mặt Chúa làng càng thêm hung ác.



o O o



Trên núi, thằng Nhà và con Gạo đã thức dậy. Hai đứa quờ tay không thấy mẹ, rụi mắt nhìn chung quanh cũng không thấy mẹ đâu. Con Gạo khóc, thằng Nhà nói:- Chúng ta hú to lên thì mẹ về.Chúng nó hú to. Tiếng vang cũng hú, con rận con nghe tiếng hú, nó bắt chước tiếng người mẹ hú, hú lên. Thằng Nhà nói:

- Mẹ nghe tiếng chúng ta hú rồi. Mẹ sắp về đấy.

Thằng Nhà dắt con Gạo ra gốc cây gạo, thấy giỏ gạo treo trên ngọn cây. Thằng Nhà thấy cái sào trúc, nói:

- Mẹ treo cao để chúng ta ăn dè đây.

Nó lấy cái sào chọc vào giỏ gạo, mấy hạt gạo rơi xuống. Hai anh em cúi xuống nhặt ăn. Ăn xong, hai đứa trẻ nhìn xuống dưới núi, chúng nó chóng mặt, lại ôm nhau, lấy manh áo rách của người mẹ đắp, rồi lại ngủ thiếp đi. Con rận con vẫn hú đều đều, ru ngủ hai đứa trẻ.



o O o



Chúa làng mặt mày vằn vện, cưỡi ngựa ra khỏi rừng mây, đang định về thì nghe tiếng hú trên núi. Chúa làng phi ngựa lên. Rận con nghe tiếng nhạc ngựa, vội vã bò xuống núi đón Chúa làng. Chúa làng phi ngựa lên tới chỗ có tiếng hú, chỉ thấy một con rận con, quát:

- Có ba mẹ con chạy qua đây không?

Chúa làng hỏi ba lần. Ba lần, con rận con trả lời không biết. Chúa làng tức giận đùng đùng, bắt con rận con bỏ vào mồm cắn, nuốt chửng, con rận con nói:

- Chúa làng giết người, ăn rận, không được làm người nữa. Chúa làng sẽ biến thành con hổ.

Con rận con nói xong thì Chúa làng biến thành con hổ, mặt mày vằn vện rất hung ác. Con hổ chạy vào hang trong rừng. Dọc đường nó gặp một người con gái đi kiếm củi. Con hổ gầm lên một tiếng, nhảy tới vồ người con gái, bắt về hang. Người con gái khóc lóc. Con hổ định ăn người con gái, nhưng nó thấy người con gái mắt sáng như sao, tay dẻo như mây, nó nói:

- Tao tha chết cho mày, nhưng tao lấy mày làm vợ.

Người con gái khóc lóc, giãy giụa. Về đến hang, con hổ giam người con gái vào một ngăn bên. Nó chất đá chung quanh. Nó chất những tảng đá to nhất, nặng nhất chung quanh người con gái.

Từ khi Chúa làng biến thành hổ, dân làng làm ăn đã dễ chịu hơn trước. Nhưng con hổ lại bắt dân làng mỗi ngày phải nộp cho nó một buồng gan, gan trâu hay gan lợn. Nếu không nộp thì nó sẽ bắt người. Dân làng rất căm con hổ, nhưng khiếp oai nó, nên ngày ngày phải giết trâu, giết lợn, cắt lấy buồng gan đem ra bờ suối. Ngày ngày hổ ra đấy lấy gan ăn.

Dân làng vẫn tìm cách trừ con hổ đi, nhưng chưa có dịp.Thằng Nhà, con Gạo ăn hết giỏ gạo thì vừa tròn một tháng. Người mẹ vẫn chưa về. Con Gạo khóc. Thằng Nhà nói:

- Chúng ta phải đi tìm mẹ chứ khóc mẹ cũng chẳng về.

Thằng Nhà cõng con Gạo xuống núi. Buổi chiều, hai anh em tới một bờ suối. Con Gạo vừa khóc vừa nói:

- Sao mãi mẹ chẳng về.

Gạo kêu đói, Gạo khóc đòi ăn. Thằng Nhà cũng đói lắm, nhưng nó không khóc, nó nói:

- Mẹ thế nào cũng về.
Thằng Nhà trông trước trông sau, thấy bên bờ suối có một buồng gan lợn. Nó định nhảy ra lấy thì con hổ vừa tới. Thằng Nhà giấu con Gạo vào một bụi kín. Hai đứa trẻ nhìn ra. Con hổ ăn gan xong, vươn mình vằn một cái rồi biến vào rừng. Hai anh em phải bịt mũi vì mùi hôi tanh của con hổ. Ngày hôm sau, gần về chiều, thằng Nhà và con Gạo núp trong bụi kín, thấy một ông cụ già đem một buồng gan đến đặt bên bờ suối, cũng vẫn chỗ hôm qua. Ông cụ lấm lét nhìn xung quanh rồi đi. Xâm xẩm tối, con hổ tới ăn gan xong, nó vươn mình vằn một cái rồi biến vào rừng. Hai anh em phải bịt mũi vì mùi hôi tanh của con hổ. Ngày hôm sau nữa, gần về chiều, thằng Nhà và con Gạo núp trong bụi kín, thấy một bà lão đem một buồng gan đến đặt ở bờ suối, cũng vẫn chỗ hôm qua. Bà lão lấm lét nhìn chung quanh rồi đi. Đợi bà lão đi khỏi, Nhà nhảy ra. Gạo giữ lại, nói:

- Đừng ra, hổ cắn chết.

Thằng Nhà nói:

- Hổ chưa tới. Anh ra lấy gan về cho em ăn đỡ đói.

Nói xong, thằng Nhà chạy rất nhanh ra bờ suối, lấy buồng gan trở về. Con Gạo nhảy ra khỏi bụi, tíu tít nói:

- Nhanh lên, nhanh lên, hổ sắp tới đây.

Thằng Nhà một tay cầm buồng gan, một tay dắt Gạo, nói:

- Vào sâu trong rừng kẻo hổ vào bắt được.

Hai đứa vào sâu trong rừng. Thằng Nhà nhớ hồi đi với ông lão Đá. Ông lão Đá dạy nó cách đập đá lấy lửa. Nó đập đá, lửa tóe ra. Hai đứa chất củi khô làm bếp nướng gan, nướng chín đến đâu ăn đến đấy.Con hổ đến bờ suối như mọi khi. Không thấy buồng gan, nó gầm lên một tiếng.

Con Gạo ôm chầm lấy anh, nói:

- Chạy đi không hổ bắt.

Thằng Nhà nói:

- Không sợ. Nó không vào đây được.

Con hổ sục sạo chung quanh một hồi lâu. Nó đi đến đâu thì đá băng cây đổ đến đấy, nhưng nó không vào được chỗ thằng Nhà và con Gạo. Ngày hôm sau cũng thế. Ngày hôm sau nữa cũng thế. Con hổ sục sạo chung quanh một hồi lâu. Nó đi đến đâu thì đá băng cây đổ đến đấy, nhưng nó vẫn không vào được chỗ thằng Nhà và con Gạo. Nó gầm lên, tiếng gầm lay rừng chuyển núi. Cuối cùng nó lồng lộn ra về. Thằng Nhà, con Gạo lại nướng gan, chín đến đâu ăn đến đấy. Con Gạo nói:
- Để dành cho mẹ một miếng gan kẻo mẹ đói.



o O o



Con hổ về hang, gầm thét dữ tợn. Vợ hổ sợ khiếp, chạy sang ngăn bên, ôm mặt khóc. Ngày hôm sau, con hổ ra bờ suối rất sớm. Nó nấp sau một bụi lau. Buổi chiều, nó thấy một ông lão mang buồng gan đặt bên bờ suối, lấm lét nhìn chung quanh rồi đi. Ông lão vừa đi thì có một thằng bé chạy tới xách buồng gan chạy vụt vào rừng sâu. Con hổ gầm lên:

- Thằng bé hỗn láo, muốn sống thì để buồng gan đấy.

Nó nhe nanh, vểnh râu, nhảy những bước nhanh như gió, đuổi theo thằng Nhà. Nó đứng xa, thấy một đống lửa to, hai đứa trẻ ngồi nướng gan, mùi thơm phưng phức. Con hổ thèm rỏ một bãi nước bọt tanh tưởi. Nó nhảy xồ vào, nhưng đá băng cây đổ, nó không vào được chỗ thằng Nhà và con Gạo. Nó gầm lên những tiếng lay rừng chuyển núi. Nó điên cuồng, lồng lộn ra về.Về đến hang, con hổ gầm thét dữ tợn. Vợ hổ sợ khiếp nằm trong ngăn bên, ôm mặt khóc. Con hổ quát:

- Có hai đứa trẻ cùng giống người với mày, dám cả gan lấy gan của tao ăn. Mày vào rừng sâu, chỗ nào có lửa là chỗ chúng nó nấp, dỗ đem chúng nó về đây.

Vợ hổ nói:

- Hổ còn không đem về được, tôi đem thế nào được?

Con hổ há rộng mồm, nhe nanh nhọn hoắt, mắt đỏ ngầu như miếng tiết. Nó lại gầm:

- Không đem được hai đứa trẻ về đây, thì tao bắt hết dân làng ăn gan. Vợ hổ nghe nó dọa bắt hết dân làng ăn gan, lo sợ quá đành phải đi. Nhưng vừa đi, vợ hổ vừa khóc. Vợ hổ đến chỗ hai anh em Nhà và Gạo. Hai đứa đang ngủ, ánh lửa ửng hồng trên trán thằng Nhà trên trán con Gạo. Vợ hổ nhìn hai đứa trẻ càng thương, nước mắt chảy ròng ròng. Nước mắt chảy trên trán của Nhà, trên má của Gạo. Thằng Nhà và con Gạo choàng tỉnh dậy. Chúng nó rụi mắt, thấy trước mặt là một người con gái xinh đẹp, nhưng mặt buồn buồn như mặt người mẹ. Thằng Nhà ngồi dậy, hỏi:

- Chị là ai?

Con Gạo cũng ngồi dậy, chạy đến nắm tay vợ hổ, hỏi:

- Chị ở đâu đến đây?

Vợ hổ không trả lời được, đứng khóc. Con Gạo chạy đến ôm chân vợ hổ. Thằng Nhà cũng chạy đến cầm tay vợ hổ. Thằng Nhà hỏi:

- Chị là ai mà lại khóc?

Con Gạo cũng hỏi:

- Chị ở đâu đến đây mà cứ khóc mãi thế?

Vợ hổ nghẹn ngào nói:

- Thôi, hai em đừng hỏi nữa. Hai em cứ đi theo chị đây, chị sẽ nói cho hai em hiểu.

Thằng Nhà hỏi:

- Đi với chị à? Đi đâu?

Con Gạo cũng hỏi:

- Đi với chị à? Chị đưa em đến với mẹ em nhé.

Mặt vợ hổ cũng buồn như mặt người mẹ. Tiếng nói của vợ hổ cũng êm dịu như tiếng nói của người mẹ. Con Gạo bằng lòng đi với vợ hổ. Thằng Nhà cũng bằng lòng.

Hai anh em giục vợ hổ đi, vợ hổ lại không đi, đứng nguyên một chỗ, nước mắt chảy ròng ròng. Vợ hổ nghĩ:

- Không lẽ đem hai em về cho hổ ăn gan.

Con Gạo nóng lòng tìm mẹ, giục vợ hổ đi. Thằng Nhà cũng giục. Vợ hổ vẫn chưa chịu đi. Chợt vợ hổ nghĩ ra một cách, bảo hai em chui vào váy, rồi tiến về hang.

Hổ thấy vợ về, hỏi:

- Có tìm thấy chúng nó không?

Vợ hổ nói:

- Chỉ thấy núi băng cây đổ, đống lửa vẫn cháy, hai đứa trẻ đi rồi.

Hổ gầm lên một tiếng lay rừng chuyển núi. Vợ hổ sợ khiếp. Con Gạo bám chặt lấy thằng Nhà. Hổ nhìn váy vợ thấy lùng thùng hỏi:

- Sao to thế kia?

Vợ hổ nói:

- Sắp đẻ, làm buồng cho tôi đẻ.

Hổ chỉ vào ngăn riêng của vợ hổ, bảo:

- Cứ vào đó mà đẻ đi.

Vợ hổ nói:

- Phải tha thêm đá vào.

Hổ bèn đi tha đá chất đầy chung quanh ngăn của vợ hổ. Vợ hổ vào ngăn, cài cửa đá lại. Trong ngăn đá dầy, con Gạo khóc sụt sùi. Thằng Nhà hỏi vợ hổ:

- Sao chị lại lừa chúng tôi về đây cho hổ ăn thịt chúng tôi?

Vợ hổ lại khóc, cúi xuống chụm đầu vào hai đứa trẻ, kể lại vì sao vợ hổ bắt buộc phải đưa Nhà và Gạo về đây. Cuối cùng, vợ hổ nói:

- Chị không đưa hai em về đây thì hổ ăn thịt hết dân làng. Chị đem hai em về đây, hai em trốn trong này với chị để tìm mưu giết hổ.

Mặt vợ hổ buồn như mặt người mẹ. Tiếng nói của vợ hổ êm dịu như tiếng nói người mẹ.

Nhà và Gạo bằng lòng trốn trong ngăn đá với vợ hổ.

Hổ đi rừng về, nhìn vào phía ngăn đá, gầm lên, hỏi:

- Đẻ chưa?

Vợ hổ chưa kịp trả lời, nó đã phồng mũi lên. Nó ngửi thấy hơi trẻ con, nó gầm:

- Đẻ người à? Mấy đứa? Đem ra đây.

Vợ hổ trả lời:

- Hai đứa, không đem ra được. Nó nhỏ, ra gió nó chết.

- Không đem ra thì mở cửa tao vào.

- Vào không được, nó nhỏ, nó thấy bố hổ, nó sợ nó chết.

- Nó nhỏ, gan nó to chừng nào?

- Nó nhỏ, gan nó bằng đốt tay.

Hổ liếm mép bỏ đi, nghe xa xa có tiếng đá băng, cây đổ. Vợ hổ kể lại chuyện bị hổ bắt ép làm vợ như thế nào cho hai đứa trẻ nghe. Thằng Nhà cũng kể tình cảnh nhà mình cho vợ hổ nghe. Con Gạo ôm chặt lấy thằng Nhà, thằng Nhà ôm chặt lấy vợ hổ, vợ hổ ôm chặt lấy hai em. Từ đôi mắt vợ hổ sáng như sao, hai dòng nước mắt chảy ra trong như nước suối, rơi xuống bàn tay nhỏ của con Gạo và thằng Nhà. Con Gạo hỏi:

- Mẹ em đâu?

Vợ hổ nói:

- Các em thế nào cũng tìm thấy mẹ. Chị thế nào cũng thấy nhà.

Vợ hổ lẻn ra, vào rừng trảy muỗm về cùng hai em ăn. Ăn xong hai đứa trẻ ngủ. Vợ hổ ngồi nhìn hai em, thấy chúng nó hiền lành, thương chúng nó bơ vơ, vợ hổ lại khóc. Vợ hổ cất tiếng êm ái ru cho hai em ngủ say.



o O o



Hôm sau hổ lại hỏi:

- Đã nhớn chưa? Đem một đứa ra đây tao ăn gan.

Vợ hổ nói:

- Còn bé lắm. Chưa nhớn được là bao. Ăn bây giờ chẳng bõ.

Ngày hôm sau, hổ lại hỏi. Vợ hổ lại trả lời như thế. Hổ gầm lên, làm cho cả hang đá rung lên như sấm động. Hổ nói:
- Mày không được nói quanh. Tao hẹn một ngày nữa. Ngày mai, mày không đưa một đứa ra thì tao sẽ phá cửa vào lôi cả ba đứa chúng mày ra ăn một lúc.

Nói xong hổ ra đi, nghe xa xa đá băng cây đổ ầm ầm. Ba người trong hang ôm nhau khóc. Con Gạo nói:

- Mẹ ở đâu, mẹ về đón con, hổ nó sắp ăn gan con rồi.Lúc này người mẹ thấy nhói đau trong ruột. Người mẹ đã đi lùng hết rừng núi, đầu sông ngọn nguồn để tìm con, nhưng không gặp. Ngày đêm người mẹ chỉ khóc, mắt người mẹ đã mờ đi.
Thằng Nhà lấy tay gạt nước mắt, nói với vợ hổ:

- Chị ra cắt lấy một miếng gan ở bờ suối về, ngày mai hổ hỏi thì đưa ra cho nó, bảo rằng gan người bé hơn gan trâu.Vợ hổ ra bờ suối cắt lấy một miếng gan trâu đem về. Thằng Nhà nói:

- Chị lấy ba gai mây nhét kín vào trong miếng gan, hổ ăn gan, gai mây sẽ đâm thủng ruột hổ.Ngày hôm sau, hổ gầm:

- Đem một đứa ra đây để tao ăn gan.

Vợ hổ nói:

- Tôi giết một đứa rồi. Đây đã sẵn buồng gan của nó để bố hổ ăn.

Hổ cười, mặt hổ cười lại càng xấu xí, dữ tợn. Hổ khen vợ hổ tốt. Vợ hổ đưa miếng gan cho hổ. Hổ hỏi:

- Sao gan không tươi?

Vợ hổ nói:

- Gan người không tươi bằng gan trâu, gan lợn, nhưng bổ hơn gan trâu, gan lợn.

Hổ lại hỏi:

- Sao gan người có cái gì vương vướng khó ăn?

Vợ hổ nói:

- Gan người không mềm bằng gan trâu, gan lợn, nhưng gan người bổ hơn gan trâu, gan lợn.

Hổ ăn xong thì lưỡi hổ tóe máu, toạc ra làm đôi, ruột hổ đau như kim đâm. Vợ hổ cài cửa đá lại thật cẩn thận. Hổ gầm, hổ quát, hổ kêu. Hổ gọi vợ hổ ra đấm lưng cho hổ. Vợ hổ không ra, hổ nói:

- Mày phản tao, tao biết rồi.

Nó gầm lên một tiếng, đá trong hang lở ầm ầm. Nó húc vào ngăn bên, đá vỡ toác ra. Nó trông thấy vợ đang ôm hai đứa trẻ. Nó lách vào, nhưng đá đã kẹp lấy đầu con hổ, đầu con hổ vỡ toác ra. Thằng Nhà, con Gạo và vợ hổ phải đưa tay lên bịt mũi vì mùi tanh hôi của con hổ.

Thằng Nhà nói:

- Hổ chết rồi. Phải đem chôn hổ ngoài hang.

Ba người đào một cái hố sâu, vứt xác hổ xuống, lấp đất lên.



o O o



Con Gạo đem manh áo rách của người mẹ ra phơi. Nhớ mẹ, Gạo khóc, nước mắt của Gạo rơi xuống đất. Thằng Nhà vừa nhớ mẹ vừa thương em, cũng khóc, nước mắt của Nhà rơi xuống đất. Người con gái vừa nhớ nhà vừa thương hai đứa trẻ bơ vơ, cũng khóc, nước mắt của người con gái rơi xuống đất. Thằng Nhà vào trong ngăn lấy ra một hột muỗm đem vùi xuống đất. Nó nói:

- Muỗm ơi, mày mọc lên cho chúng tao khuây khỏa chút nào.

Sáng hôm sau, ba người chạy ra, thấy muỗm đã mọc mầm. Gạo không khóc nữa. Người con gái cũng vui lên. Buổi trưa, ba người chạy ra, thấy muỗm đã cao bằng đầu người con gái. Ba người vỗ tay cười. Buổi chiều, ba người chạy ra, thấy muỗm đã cao vút tới mây, cành lá rườm rà như một cái tán lớn mở ra rợp cả một vùng. Ba người đứng dưới gốc muỗm nhảy nhót. Sáng hôm sau, muỗm chi chít những quả là quả.

Người con gái trảy ba quả muỗm vừa ngọt vừa thơm. Ba người ăn vào mát lòng mát dạ. Chim rừng nghe tin hổ chết, trước hang hổ lại có cây muỗm to bóng râm rất mát, quả vừa thơm vừa ngọt. Chúng nó ríu rít ca, rủ nhau bay đến cây muỗm.
Đầu tiên là chim chào mào. Thằng Nhà ngồi dưới gốc muỗm với con Gạo và người con gái, thấy chào mào nghiêng mào ăn muỗm, bèn hỏi:

- Chào mào có biết mẹ tôi ở đâu không?

Chào mào hỏi:

- Người thế nào?

- Giống tôi như đúc.

- Thế thì không biết.

- Chào mào không biết thì không cho chào mào ăn.

Thằng Nhà xua con chào mào. Chào mào vừa bay đi thì một con sáo đến. Thằng Nhà ngồi dưới gốc cây muỗm với con Gạo và người con gái, thấy sáo đang lấy mỏ ngắt rỉa một quả muỗm, bèn hỏi:

- Sáo có biết mẹ tôi ở đâu không?

- Người thế nào?- Giống tôi như đúc.

- Thế thì không biết.

- Sáo không biết thì không cho sáo ăn.

Thằng Nhà xua con sáo. Sáo vừa bay đi thì một con đại bàng đến. Đại bàng mào đỏ mỏ vàng, lông cổ óng ánh năm mầu, hai cánh xòe ra rợp cả hang hổ. Thằng Nhà ngồi dưới gốc cây muỗm với con Gạo và người con gái, thấy đại bàng ăn quả, bèn hỏi:

- Đại bàng có biết mẹ tôi ở đâu không?

Đại bàng nhìn thằng Nhà, nhìn con Gạo một lúc lâu lại nhìn người con gái.

Đại bàng nói:

- Đại bàng có biết một bà giống hai em như đúc, bà có một trai tên là Nhà, một gái tên là Gạo, bà vẫn nhắc hai con, nhưng không biết đường về.

- Thế thì đúng là mẹ chúng tôi rồi. Mẹ tôi ở đâu, đại bàng?

- Phải đi qua ba rừng, bốn sông, bảy núi, rồi đến một bến sông, nước trong như gương, bến có một cây đa um tùm mát rượi. Mẹ các em thường hay đến đấy tắm rửa.

- Đại bàng dẫn chúng tôi đi tìm mẹ nhé.- Để đại bàng ăn no thì đại bàng dẫn các em đi tìm mẹ.

- Thế thì đại bàng ăn đi, ăn nhanh lên rồi đưa chúng tôi đi tìm mẹ.

Đại bàng ăn xong, nói:

- Hai em trèo lên mình đại bàng, mình đại bàng êm như bông, ấm như nắng, đại bàng sẽ dẫn hai em đi tìm mẹ.



o O o



Thằng Nhà đỡ con Gạo lên mình đại bàng, rồi bước lên ngồi đằng sau đứa em. Hai anh em quay lại thấy người con gái đứng trước cửa hang, mặt buồn buồn như mặt người mẹ . Người con gái nói:

- Hai em đi tìm mẹ, chị thì bao giờ tìm thấy nhà?

Người con gái sa nước mắt, nước mắt trong như nước suối.

Thằng Nhà nói:

- Đại bàng ơi, đại bàng có giúp cho chị tôi tìm được nhà không?Đại bàng nói:

- Ra bờ suối, đi vào con đường đá, đến tìm ông lão Đá ông lão Đá sẽ chỉ đường cho chị về nhà.

Người con gái nói:

- Làm sao mà tìm đến được nhà ông lão Đá?

- Đại bàng sẽ thả lá muỗm ở dọc đường, chỗ nào có lá muỗm thì đi, chị sẽ tìm được nhà ông lão Đá.

Người con gái nói với hai đứa bé:

- Hai em tìm được mẹ rồi thì về chỗ ông lão Đá cho chị được gặp, kẻo chị nhớ hai em.

Thằng Nhà nói:

- Dù xa, dù khó chúng em cũng tìm gặp chị.

Người con gái đứng trước cửa hang, nhìn hai đứa trẻ gật gật đầu. Con Gạo giữ chặt manh áo rách của mẹ. Thằng Nhà một tay giữ Gạo, một tay nắm lông cổ đại bàng. Đại bàng cất tiếng hót như tiếng sáo, xòe hai cánh biếc như mây xanh, bay bổng lên giời. Hai anh em quay lại thấy người con gái vẫn đứng trước cửa hang gật gật đầu. Đại bàng thỉnh thoảng lại nhả xuống một lá muỗm.



o O o



Đại bàng bay qua rừng, bay qua núi, mình đại bàng êm như bông, ấm như nắng, tiếng đại bàng kêu như tiếng sáo. Đại bàng bay qua một con sông, thằng Nhà giật lông cổ đại bàng, hỏi:

- Đây rồi phải không, đại bàng?Đại bàng nói:

- Chưa phải. Bến sông mẹ em hay tới trong chứ không đục.

Thỉnh thoảng con Gạo nói:

- Đại bàng ơi, đại bàng thả lá muỗm xuống kẻo chị tôi lạc lối.

Đại bàng bay qua rừng, bay qua núi, mình đại bàng êm như bông, ấm như nắng, tiếng đại bàng kêu như tiếng sáo. Đại bàng bay qua một con sông, có bến um tùm.

Thằng Nhà giật lông cổ đại bàng, nói:

- Đây rồi phải không đại bàng?

Đại bàng nói:

- Chưa phải. Bến sông mẹ em hay tới là bến cây đa, không phải bến cây si.

Con Gạo chực khóc. Nó nói:

- Có gặp mẹ thật không?

Đại bàng nói:

- Gạo đừng sốt ruột. Phải bay qua đủ ba rừng, bốn sông, bảy núi mới tìm thấy mẹ.

Đại bàng bay hết ba rừng, bốn sông, bảy núi, mình đại bàng êm như bông, ấm như nắng, tiếng đại bàng kêu như tiếng sáo. Tới một bến sông, có một cây đa cổ thụ um tùm, đại bàng từ từ đỗ xuống. Lúc ấy vào giữa trưa. Đại bàng nói:

- Mẹ hai em ở đây.

Thằng Nhà và con Gạo nhảy xuống đất vỗ tay cười. Thằng Nhà ôm lấy cổ đại bàng nói:

- Đại bàng tốt lắm. Bây giờ đại bàng chỉ cho tôi đến chỗ mẹ tôi.

Đại bàng nói:

- Các em trèo lên cây đa, tới cái cành chĩa ngang mặt nước. Các em nhìn xuống sông. Lát nữa, bà con đi kiếm củi qua đây, thường hay xuống rửa mặt. Các em thấy trên mặt nước, ai giống mặt hai em, thì đấy chính là mẹ các em.

Nói xong, con đại bàng mào đỏ, mỏ vàng, lông cổ óng ánh năm mầu, mình êm như bông, ấm như nắng, xòe cánh to rộng, vỗ cánh bay cao, tiếng kêu êm ái như tiếng sáo.

Thằng Nhà đỡ con Gạo trèo lên cây đa. Hai anh em bám trên cái cành cao mọc chĩa ra ngang mặt nước. Chúng nó soi mặt trên dòng sông trong vắt, mặt hai đứa nổi trên mặt nước, giống nhau như đúc.Những người đàn bà đi kiếm củi về, buổi trưa oi bức, ai nấy đều đặt gánh củi dưới gốc đa, rồi xuống bến rửa mặt lau mình. Thằng Nhà và con Gạo nhìn xuống mặt sông. Mặt chúng nó hiện lên rất rõ, nhưng hai đứa không thấy mặt ai giống như mặt chúng nó. Đám người rửa mặt lau mình xong, lại cất gánh đi. Đám người khác đến. Thằng Nhà và con Gạo lại nhìn xuống mặt sông nhưng không thấy mặt ai giống như mặt chúng nó. Con Gạo khóc, thằng Nhà nói:

- Em Gạo đừng khóc, đại bàng không nói dối đâu.

Đám người rửa mặt lau mình xong, lại cất gánh đi. Đám người khác đến. Thằng Nhà và con Gạo nhìn xuống mặt sông, mặt chúng nó hiện lên rất rõ, giống nhau như đúc. Bỗng chúng nó thấy hiện trên mặt nước trong, mặt một người đàn bà giống mặt chúng nó như đúc. Người đàn bà đang rửa mặt, cũng thấy hiện trên mặt nước trong mặt hai đứa trẻ giống mặt mình như đúc. Nước mắt của người đàn bà rỏ xuống dòng sông. Nước mắt của thằng Nhà, nước mắt của con Gạo cũng rỏ xuống dòng sông. Dòng nước trôi, nước sông trong vắt, ba khuôn mặt giống nhau như đúc, chụm vào nhau rồi lại tỏa ra, tỏa ra rồi lại chụm vào nhau.

Con Gạo giơ manh áo rách vẫy. Nó nói:

- Mẹ ơi!

Thằng Nhà cũng nói:

- Mẹ ơi!

Người đàn bà giơ tay ra đón hai đứa trẻ. Mặt người mẹ không buồn nữa, mắt người mẹ không mờ nữa. Tiếng nói êm như ru cất lên:

- Lại đây con.

Thằng Nhà và con Gạo ôm chặt lấy người mẹ, người mẹ ôm chặt lấy hai con. Người mẹ nói:

- Mẹ đi kiếm ăn, mong cho Nhà có nhà, Gạo có gạo, không ngờ lạc đường, để đến nỗi hai con khổ sở.

Vừa nói vừa vuốt tóc rối bù của con giai, lau nước mắt cho con gái. Tiếng người mẹ êm hơn tiếng sáo của đại bàng, êm hơn tiếng người con gái trong hang hổ. Tay người mẹ êm hơn bông, ấm hơn nắng. Thằng Nhà bắt đầu kể cho mẹ nghe những chuyện chúng nó gặp ở dọc đường. Người mẹ nói:
- Chúa làng chết rồi, hổ cũng không còn. Mẹ con ta gặp nhau, thế nào Nhà cũng có nhà, Gạo cũng có gạo.

Người mẹ cất tiếng hát ru cho hai con ngủ, và nói:

- Các con ngủ đi cho đỡ mệt. Tội tình các con vất vả. Chốc nữa mẹ sẽ mua quà cho các con ăn.

Trong tay người mẹ, hai anh em đánh một giấc ngủ ngon. Người mẹ nhìn con, khi thì mỉm cười, khi lại ứa nước mắt. Người mẹ hát:

- Trở về làng từ nay có nhà, có gạo, có mẹ có con. Con ơi con ngủ cho ngoan...
comments (2) | | Xem tiếp...

Chuyện Tấm Cám

Người đăng: Minh Đức- lúc:30/8/08 | 30.8.08

30/8/08

Ngày xưa, có Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Hai chị em gần bằng tuổi nhau. Tấm là con vợ cả. Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ và đó là người rất cay nghiệt. Ngày qua ngày, Tấm phải làm lụng luôn canh, hết chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó thì Cám được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm việc nặng.

Một hôm người dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng bắt con tôm con tép. Mụ ta hứa hẹn: "Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ". Ra đồng, Tấm nhờ mò cua bắt óc đã quen nên chỉ một buổi là được đầy giỏ vừa cá vừa tép, còn Cám thì đủng đỉnh dạo hết ruộng nọ sang ruộng kia Mãi đến chiều vẫn không được gì. Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị:

- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng.

Tin là thật, Tấm bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm rửa. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng về trước. Lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống bưng mặt khóc hu hụ Bấy giờ Bụt đang ngồi trên toà sen, bỗng nghe tiếng khóc của Tấm, liền hiện xuống hỏi:

- Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

- Thôi con hãy nín đi ! con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói:

- Chỉ còn một con cá bống.

- Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Một bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai còn một đem thả xuống cho bống. Một lần cho ăn con nhớ gọi như thế này:"Bống bống bang bang Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người". Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy !

Nói xong Bụt biến mất. Tấm theo lời Bụt thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Mỗi lần nghe bống gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm của Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, và bống ngày càng lớn lên trông thấy.

Thấy Tấm sau mỗi bữa ăn thường mang cơm ra giếng, mụ gì ghẻ sinh nghi, bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây bên bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm lấy cho thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe. Tối hôm ấy mụ dì ghẻ bảo Tấm sáng mai dậy sớm chăn trâu, và dặn:

- Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấỵ Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xạ ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng cũng gọi bống lên ăn y như Tấm gọi. Nghe lời gọi, bống ngoi lên mặt nước. Mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt. Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang bát cơm để dành ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khị Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành cho bống, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

- Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể sự tình cho bụt nghe, Bụt bảo:

- Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồị Thôi con hãy nín đi ! Rồi về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, bảo Tấm :

- Cục ta cục tác ! Cho ta nắm thóc, ta bưới xương cho !

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngaỵ Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn. Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bẩy dập dìu tuôn về kinh như nước chảỵ Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi chẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

- Con hãy nhặt xong cho dì chỗ gạo này rồi có đi đâu hãy đi, đừng có bỏ dở, về không có gì để thổi cơm dì đánh đó.

Nói đoạn, hai mẹ con quần áo xúng xính lên đường. Tấm ngồi nhặt một lúc, thấy suốt ruột, nghĩ rằng không biết bao giờ mới nhặt xong, bèn ngồi khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt hiện lên hỏi:

- Con làm sao lại khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

- Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội, lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi còn gì mà xem.

Bụt bảo:

- Con đừng khóc nữạ Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.

- Nhưng ngộ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.

- Con cứ bảo chúng nó thế này: "Rặt rặt (con chim sẻ ) xuống nhặt cho tao Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết" Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu!

Tự nhiên ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻọ Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại bảo:

- Con làm sao lại khóc?

- Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.

- Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ thứ cho con chẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễụ Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi giầy thêụ Đào lọ thứ ba thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuông đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn. Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đị Ngựa phóng một chốc đã đến kinh độ Nhưng khi phóng qua một một chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giầy xuống nước không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người. Giữa lúc ấy thì đoàn xa giá vừa tiến đến chỗ lộị Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn đến đấy tự nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi. Vua sai quân lính xuống nước thử tìm xem, họ nhặt ngay được một chiếc giầy thêu của Tấm lúc nẫy đánh rơi xuống đó. Vua ngắm nghía chiếc giầy không chán mắt. Bụng bảo dạ:" Chà, một chiếc giầy thật xinh! Người đi giầy này hẳn phải là trang tuyệt sắc".

Lập tức Vua hạ lệnh cho rao mời tất cả đám đàn bà con gái xem hội ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giầy thì vua sẽ lấy làm vợ. Đám hội lại càng náo nhiệt vì các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Cô nào cô ấy lần lượt kéo vào ngồi lầu giữa bãi cỏ rộng để ướm một tí cầu may. Nhưng chẳng có một chân nào đi vừa cả. Mẹ con Cám trong số đó. Khi Cám và dì ghẻ bước ra khỏi lầu thì gặp Tấm, Cám mách mẹ:

- Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử giầy đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

- Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Nhưng khi Tấm đặt chân vào giầy thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giầy giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tỳ nữ rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.

Tuy sống sung sướng trong hoàng cung. Tấm vẫn không quên ngày giỗ chạ Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn cỗ cúng giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm sung sướng thì ghen ghét để bụng. Nay thấy Tấm về, lòng ghen ghét lại bùng bốc lên. Nghĩ ra được một mưu, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

- Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo lên xé lấy một buồng cau để cúng bố. Tấm vâng lời trèo lên cây cau, lúc lên đến sát buồng thì ở dưới này mụ dì ghẻ cầm dao đẵn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi :

- Dì làm gì dưới gốc thế ?

- Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con. Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội vàng lột áo quần của Tấm cho con mình mặc vào cung nói dối với vua rằng Tấm không may bị rơi xuống ao chết đuối, nay đưa em vào để thế chị. Vua nghe nói trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả.

Lại nói chuyên Tấm chết hoá thành chim vàng anh, chim bay một mạch về kinh đến vườn ngự. Thấy Cám đang giặt áo cho vua ở giếng, vàng anh dừng lại trên cành cây, bảo nó:

- Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim vàng anh bay thẳng vào cung rồi đậu ở cửa sổ, hót lên rất vui tai. Vua đi đâu, chim bay đến đó. Vua đang nhớ Tấm không nguôi, thấy chim quyến luyến theo mình, vua bảo:

- Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh bay lại đậu vào tay vua rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh quên cả ăn ngủ. Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không tưởng đến Cám. Cám vội về mách mẹ. Mẹ nó bảo cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vuạ Trở lại cung vua, nhân lúc vua đi vắng, bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn. Thấy mất vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

- Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim, nên trộm phép bệ hạ đã giết thịt ăn mất rồi.

Vua không nói gì cả. Lông chim vàng anh chôn ở vườn hoá ra hai cây soan đàọ Khi vua đi chơi vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, nư hai cái lọng. Vua thấy cây đẹp rợp bóng, sai lính hầu mắc vọng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lạị Từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát ở hai cây xoan đào. Cám biết chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi kiếm điều nói dối vuạ Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

- Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khng cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình :

"Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị.
Chị khoét mắt ra
.

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nóị Nó đem tro đã đốt đem đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung. Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuệ Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát toả ra khắp nơị Một bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bèn giơ bị ra nói lẩm bẩm:

- Thị ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi chứ bà không ăn.

Bà lão nói vừa dứt lời, thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà lão nâng niu đem về nhà cất trong buồng, thỉng thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm. Ngày nào bà lão cũng đi chợ vắng. Từ trong quả thị chui ra một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay, nhưng chỉ trong chớp mắt đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà hàng nước. Đoạn Tấm lại thu hình bé nhỏ như cũ rồi chui vào quả thị. Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ.

Một hôm bà hàng nước giả vờ đi chợ, đến nửa đường lại lén trở về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong khi đó, Tấm từ quả thị chui ra rồi cũng làm việc như mọi lần. Bà lão rón rén lại nhìn vào khe cửạ Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm, đoạn xé vụn vỏ thị. Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua đi chơi ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ , bèn ghé vàọ Bà lão mang trầu nước dâng lên vuạ Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền phán hỏi:

- Trầu này ai têm?

- Trầu này con gái lão têm - bà lão đáp.

- Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm rạ Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưạ Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung. Cám Thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãị Một hôm, Cám hỏi chị:

- Chị Tấm ơi, chị Tấm! chị làm thế nào mà đẹp thế ?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

- Có muốn đẹp không để chị giúp !

Cám bằng lòng ngaỵ Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôị Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếụ Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Một con quạ ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà kêu rằng:

- Ngon ngỏn ngòn ngon ! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng rầm rĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu lâu của con thì lăn ra chết.
comments | | Xem tiếp...

Ba chàng dũng sĩ

Người đăng: Le Nam- lúc:27/8/08 | 27.8.08

27/8/08

Ở làng kia, có một người đàn bà rất chăm làm. Từ mờ sáng, khi chim Mơ lang vừa cất tiếng hót thì đã thấy bà rời làng lên nương rồi. Bà cặm cụi làm việc cho đến khi ngôi sao Bắc đẩu lấp lánh trên trời cao mới lại trở về làng.

Một hôm, đang làm rẫy, bà bỗng thấy trong người choáng váng, khó chịu, cổ họng khô cháy như lửa đốt. Bà vội tìm đến chiếc chòi giữa rẫy, nhấc ống nước định uống thì thấy trong ống chẳng còn giọt nước nào. Cơn khát ngày càng hành hạ bà. Bà đảo mắt nhìn quanh để tìm nước uống, chợt thấy xa xa từ khe núi có một khe nước đang rỏ giọt. Bà mừng rỡ vội vã rảo cẳng chạy tới.

Đó là một quả núi giống hình một người đành ông to lớn, đang cầm chà gạc (*)ngó trời. Từ trên đỉnh đầu hình người chảy ra những giọt nước trong vắt, mát lạnh. Bà ngửa cổ vừa uống ba ngụm đã thấy cơn khát dịu ngay, cổ họng còn đọng mãi vị thơm ngọt của dòng nước lạ.

Từ hôm đó, bà thấy trong người khang khác và bụng ngày một to dần. Bà đã thụ thai.

Nhưng đã chín tháng mười ngày rồi mà bà vẫn chưa đẻ. Một năm, rồi hai năm, ngày sinh vẫn chưa tới. Cho mãi đến năm thứ ba, vào một ngày mặt trăng và mặt trời gặp nhau (nhật thực) tỏa ánh sáng vàng dìu dịu, bà mẹ mới trở dạ. Bà sinh được ba đứa con trai bụ bẫm, kháu khỉnh và giống nhau như lột.

Ngày tháng trôi qua, ba đứa trẻ lớn dần lên. Từ đấy, núi rừng có thêm ba chàng trai khỏe mạnh. Cánh tay họ cứng như sắt có thể bẻ gãy cây to như ngắt ngọn cỏ. Cặp chân họ chạy nhanh như gió, một bước nhảy vượt băng một cánh rừng. Mắt họ sáng, nhìn xa hơn mắt chim ưng.

Thấy các con đã khôn lớn, một hôm bà mẹ bảo họ:

- Đất trời mình còn rộng lắm. Các con hãy chia nhau đi các ngả mà làm ăn. Lâu lâu, các con hãy về thăm mẹ nhé!

Ba chàng trai vâng lời, từ biệt mẹ lên đường. Người em út theo hướng mặt trời mọc mà đi. Đường đi mỗi ngày một xuống thấp và chẳng bao lâu đồng bằng bát ngát, biển khơi mênh mông sóng nước hiện ra. Người em út ưng miền đất đẹp này lắm và chọn nơi ấy làm chốn ở của mình. Từ đó, ngày tắm nước bể trong xanh, đêm nằm dài trên cát mịn, da dẻ chàng thay đổi dần, trắng trẻo như cục bột. Người ta gọi chàng là Ngọc.

Người em thứ hai cứ theo hướng mặt trời lặn mà đi. Đất dưới chân chàng ngày một cao dần lên, rừng rậm trùng điệp hiện ra và núi non hùng vĩ nhô lên như chào đón chàng. Gặp một khe suối nước chảy óng ánh như màu đồng hun, chàng cởi áo lội qua bờ bên kia. Dòng nước kì lạ ấy đã làm cho người em thứ hai khi từ khe nước bước lên đổi hẳn màu da, trở thành ngăm ngăm đen hệt như màu nước. Thấy đất màu mỡ, chàng bèn dừng lại và dựng trại làm ăn. Từ đó người ta gọi chàng là chàng Lèo.

Còn người anh cả ở giữ quê hương. Chàng dựng lên một chiếc nhà rông cao nhất trời, mái nhà cong vút chấm tới mây, cột nhà dựng san sát như cây rừng. Chàng sống ở đó, trông núi rừng cho suối đánh đàn, cho hoa nhảy múa, cho muôn thú và gió lộng hát ca…

Nhưng bỗng một hôm, một con Xà tinh không biết từ đâu hiện ra, mình nó lớn bằng cả một dãy núi. Nó có cánh để bay vút lên trời, lại có vây để lặn sâu xuống nước. Nhưng lợi hại nhất là ba viên ngọc ước của họ nhà trời mà Xà tinh đã ăn cắp được, đem về cất giấu trong chiếc túi tròn, đeo ở nách bên phải của nó. Hòn ngọc thứ nhất màu xanh biếc, khi giơ ra thì lập tức giông bão nổi lên, gió gào thét điên cuồng, thổi bật đi cả từng khu rừng một. Hòn ngọc thứ hai màu trắng nhạt, cầm đến nó thì lập tức sóng nước cuồn cuộn trào dâng, cuốn trôi băng cả hàng chục làng. Hòn ngọc thứ ba màu đỏ chói, khi tung lên thì khói lửa rừng rực bốc lên, thiêu rụi hết mọi vật. Xà tinh dùng ba viên ngọc ước này để tàn phá tất cả những miền mà nó đi qua.

Một hôm, Xà tinh mò đến quê hương của ba chàng trai. Nó đi đến đâu, cây rừng nghiêng ngả, gió rú ào ào, khói mây bay mù mịt đến đấy. Người anh cả thấy có chuyện lạ, vội từ trong nhà rông bước ra, một tay cầm chiếc khiên đính lục lạc đồng, một tay cầm con dao nhọn, sắc như nước.

Trông thấy vẻ hùng dũng của người anh cả, Xà tinh cũng có ý chờn. Nó thò tay vào túi, bốc viên ngọc xanh biếc ra, tức thì dông bão ầm ầm nổi lên, cây bật rễ, đá núi bay rào rào. Thấy Xà tinh bỗng dưng tác oai, tác quái, tàn phá buôn làng quê hương mình, người anh cả nổi giận lao người tới trước mặt nó, vung mạnh tay khiên. Chiếc khiên quay vun vút làm thành một trận gió mạnh, xô bạt cơn dông của Xà tinh đi. Sau nửa ngày đánh nhau kịch liệt, Xà tinh đuối sức phải thu ngay viên ngọc xanh lại. Nó tức giận gầm lên một tiếng vang trời rồi nhấc viên ngọc màu trắng nhạt ra. Lập tức cả một bể nước ậo tới, phủ kín núi rừng. Lợn lòi, chồn, rắn nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Trước sức mạnh ghê gớm của nước lụt, người anh cả thấy hết phương chống cự. Chàng chạy vội lên ngọn núi cao nhất, quờ cây khô, dồn lá héo, chất thành đống lớn, châm lửa đốt lên. Ngày trước, lúc chia tay lên đường, ba anh em đã hẹn ước với nhau rằng bao giờ có giặc hay gặp nguy nan, người anh cả sẽ dùng ánh lửa đốt trên núi cao để báo hiệu gọi các em về, một ngọn là hiệu gọi em út, hai ngọn là gọi em thứ hai.

Thấy một ngọn lửa nơi quê mẹ bùng cháy, chàng Ngọc lúc đầu ngỡ là ánh sáng mặt trời rọi lên, chẳng để ý tới. Nhưng ánh lửa mỗi lúc một cháy to, ngọn lửa lắc lư như vẫy gọi. Biết là lửa của anh cả gọi mình, chàng Ngọc bèn chạy một mạch như bay về quê hương.

Tới làng cũ, nhìn thấy núi rừng tiêu điều, xơ xác, chàng Ngọc vô cùng căm giận, ngồi bên suối ngày đêm nghĩ cách trừ Xà tinh.

Một buổi sáng, chàng Ngọc từ biệt anh cả đi thẳng vào sào huyệt của yêu quái. Thấy chàng trai trắng trẻo, Xà tinh gầm gừ rồi quát lớn:

- Hỡi con thỏ trắng kia! Mày mang da đến đây cho tao lột phải không?

Chàng Ngọc dũng cảm thét vào mặt nó:

- Ta đến tìm mày để hỏi tội đây. Thần nước ở quê ta, ta còn trị được nữa là vũng nước chân trâu hôi thối của mày!

Xà tinh giận lắm. Hắn bốc ngay viên ngọc trắng nhạt ra. Lập tức sóng ngàn, nước cả hiện ra trắng xóa một vùng. Nhanh như chớp, chàng Ngọc co mạnh tay, dẫm mạnh chân xuống đất. Tức thì, từ trong lòng đất nổi lên một bức thành dài dằng dặc. Lớp thành đất vững chắc như thép nhô cao lên mãi, vây chặt lấy bể nước rồi khép dần lại. Dòng nước hung dữ cố sức phá vỡ bức thành để tràn ra ngoài nhưng không nổi. Nước ngày một cạn dần đi. Xà tinh yếu thế vội thu viên ngọc trắng lại và giở viên ngọc đỏ chói ra. Lập tức khói bốc lên mù trời, lửa cháy rừng rực, cây xanh cháy thành than. Nước suối sôi lên ùng ục. Người em út không trị được nạn lửa ghê gớm ấy, đành phải chạy về vùng biển.

Thấy nguy khốn, người anh cả lại lên núi cao, chất hai đống lửa lớn, gọi người em thứ hai về cứu. Trông thấy hiệu lửa, chàng Lèo liền nhắm hướng lửa mà chạy như gió, chẳng quản ngày đêm. Đến quê mẹ, chàng chạy thẳng đến hang Xà tinh và gặp nó đang mài vuốt trước cửa hang. Chẳng nói, chằng rằng, chàng Lèo nhằm giữa mặt nó phóng một ngọn lao mạnh như sấm sét. Biết dòng họ dũng sĩ đã lại đến, Xà tinh liền tìm cách thử tài. Lùi lại tránh mũi lao, nó bốc một nắm lá, niệm thần chú rồi tung lên trời. Lập tức một bầy ong vò vẽ hiện ra vù vù xông tới. Chàng Lèo bình tĩnh tháo bông hoa cài trên đầu cắm nhẹ trên đất. Tức thì khắp một cánh rừng, những bông hoa muôn sắc tỏa ra rồi dệt lại thành một tấm thảm đẹp tuyệt vời. Đàn ong bén mùi mật hoa, sà cả xuống bám đen nghịt. Chúng chui vào bông hoa để hút mật. Bỗng nhiên bông hoa rùng mình khép luôn cánh lại, nhốt chặt đàn ong ma quái ở bên trong.

Thấy phép thuật của mình đã bị hại, Xà tinh gầm lên, bốc viên ngọc đỏ chói ra, thét lớn:

- Đến ngọc này thì mày cũng sẽ phải chạy như hai tên nhãi trước thôi!

Thấy ngọn lửa ngùn ngụt bốc cao, cháy rừng rực, dữ tợn, chàng Lèo liền cởi ống nước phép đeo trên lưng, trút xuống đất. Những tia nước mát rượi bắn tung ra rồi bỗng dâng cao thành những suối nước khổng lồ bao lấy lửa. Chẳng bao lâu, lửa của Xà tinh đã bị các suối nước làm tắt ngấm hết. Bị thua, Xà tinh càng điên cuồng gầm thét. Hắn thu viên ngọc đỏ lại rồi vung viên ngọc trắng nhạt ra. Lập tức sóng nước dâng lên cuồng cuộn, mưa xối ào ào như nước chảy trong ống. Nước dâng lên rất nhanh khiến người em thứ hai không tài nào chống nổi, đành phải theo hướng mặt trời lặn mà chạy về núi.
Người anh cả thấy các em mình không trị được Xà tinh thì vô cùng lo lắng. Dâng làng thấy vậy cũng rất lo. Họ liền hợp sức nhau lại, góp công đóng một chiếc thang thật dài, bắc qua sông, bảo người anh cả leo lên hỏi Trời xem có phép gì giúp cho dân làng giết được Xà tinh không. Người anh cả leo thang lên Trời ngay.

Sáng hôm ấy, Trời ngủ dậy muộn, vừa mở mắt Trời đã thấy người anh cả quỳ trước mặt, thưa rõ đầu đuôi câu chuyện và xin Trời giúp cho cách đánh Xà tinh. Suy nghĩ một lát, trời gật gù bảo:

- Con Xà tinh này quả là có lắm phép. Nhưng tài trí của các cháu cũng không kém gì nó lắm đâu. Chỉ vì các cháu chưa biết hợp sức lại mà đánh nên mới trị được phép này, nó lại giở phép khác. Thôi, bây giờ hãy trở về núi cao, đốt lửa gọi hai em cháu về. Rồi cả ba anh em cùng hợp sức đánh thử xem. Nếu vẫn thua, ta sẽ bày cách khác.

Người anh cả vâng lời, trở về núi cao đốt lửa gọi hai em lần nữa. Ba anh em hợp nhau lại cùng với dân làng, chia thành ba ngả kéo thẳng đến sào huyệt Xà tinh.

Đang gục đầu ăn gan trâu trắng, uống rượu đen, chợt thấy ba chàng dũng sĩ đứng chặn ngay trước cửa hang, Xà tinh liền gầm gừ:

- Kìa, ba con thỏ non lại kéo đến nộp mạng rồi. Hãy đợi đấy, ăn uống xong, ta sẽ hỏi tội chúng mày.

Người anh cả đáp lại, giọng to như tiếng cồng vang:

- Yêu quái, hôm nay mày sẽ phải đền tội. Mày đã tàn phá núi rừng này, giết hại dân làng này, giờ đây anh em ta sẽ hợp sức nhau lại trị tội mày.

Xà tinh giận lắm. Nó nhảy ra khỏi hang, giơ viên ngọc xanh ra. Dông bão nổi lên. Nhanh như chớp, người anh cả vung chiếc khiên, giơ đằng đông, núi đằng đông sạt; giơ đằng tây, núi đằng tây đổ. Chiếc khiên quay tròn, cuốn gió thổi bạt cả dông bão của Xà tinh đi. Xà tinh thua trận đầu, vội giở tiếp ngay viên ngọc trắng ra. Nước lũ ào ào tràn tới. Người em út lao ngay ra giữa dòng nước, giơ cao kiếm dẫm chân mạnh xuống đất. Tức thì lớp lớp thành lũy nổi lên, bủa vây và nhốt chặt dòng nước lại. Thấy phép màu bị hại, Xà tinh hấp tấp bốc vội viên ngọc đỏ ra. Khói lửa cuộn đến, cháy ngút trời. Nhanh như cắt, người em thứ hai trút ngay ống nước phép xuống đất. Những dòng nước nhỏ, trong chốc lát biến ngay thành trăm ngàn con rồng bằng nước lạnh, uốn khúc, lấp loáng bám lấy bể lửa. Lửa lụi dần rồi tắt ngấm.

Thấy mất trọn cả ba phép lạ, Xà tinh cuống cuồng toan chạy trốn ra bể. Nhưng chàng Ngọc đã lăm lăm thanh kiếm chặn mắt đường. Xà tinh hoảng sợ vội quay đầu chạy lên núi. Nhưng chàng Lèo đã chống ngọn lao đợi sẵn ở đấy. Bí thế, Xà tinh toan chạy trốn lên trời, nhưng người anh cả đã nhảy vọt tới, vung con dao sắc như nước xả tới tấp vào mình nó. Xà tinh gào thét giãy giụa chuyển cả rừng, rung cả đất. Cuối cùng kiệt sức, nó lăn ra chết, hóa thành dãy núi Róc Ron lởm chởm, nứt nẻ, lồi lõm, cằn cỗi màu chết chóc.

Từ đó, núi rừng Tây Nguyên trở lại cảnh thanh bình ngày trước. Nương đầy lúa, rẫy đầy khoai, sông đầy cá, bờ suối khoe sắc hoa vàng hoa đỏ. Ba chàng dũng sĩ lại chia tay nhau, kẻ xuống hướng đông, kẻ lên phía tây làm ăn. Người anh cả ở lại rừng, dựng nhà rông cao to hơn xưa để giữ gìn quê mẹ. Hàng năm, người em út dưới biển gánh muối lên cho hai anh em, người em thứ hai cõng chiêng, mền lên cho anh cả. Còn anh cả thì chia cho các em gỗ quý, mật ong, thịt rừng, nếp thơm.
Cho đến nay, đồng bào Tây Nguyên còn truyền tụng rằng: người anh cả có tài múa khiên bạt gió, đó là người Tây Nguyên. Chàng Ngọc, người em út ở gần sông gần bể nên thạo nghề đắp đê ngăn nước, là người Việt. Còn người em thứ hai – chàng Lèo ở xứ nóng bức, có gió Lào, hay bị hỏa hoạn nên có tài chống lửa, đó là người Lào. Ba anh em xưa là con một mẹ.

(*) chà gạc: một loại vũ khí đi rừng của người Tây Nguyên.
comments | | Xem tiếp...

Các bài khác

Nhận xét mới nhất

Bài đăng trong Blogger

Số lượt xem blog

 
Design Template by panjz-online | Support by creating website | Powered by Blogger